scenic view of li river and karst mountains in guilin

Quan sát thân tâm: cái bẫy của người chứng kiến

Những tuần gần đây mình khá bận rộn với lớp Tâm Như Là, với 130 học viên từ rất nhiều trường phái, kinh nghiệm thực hành khác nhau và đủ mọi lứa tuổi. Trẻ nhất có lẽ là 18, và lớn tuổi nhất có lẽ tầm 60. Ngoài những buổi giảng dạy trực tuyến, hàng ngày mình dành thời gian hướng dẫn học viên thực hành chứng kiến thân tâm, từng bước nhìn ra cách tâm vận hành. Vì sự bận rộn đó mà thời gian này mình không có nhiều lúc rảnh rỗi để viết bài. Tuy nhiên, hôm nay mình nhận được một câu hỏi bao trùm rất nhiều hiểu lầm phổ biến, và thấy câu hỏi này xứng đáng được mình dành thời gian trả lời chi tiết, biết đâu có ích cho nhiều người khi đọc bài này.

Câu hỏi như sau:



“Chị ơi. Quan sát thân tâm có phải đang giúp tách cái Biết dần ra khỏi cái Ý (hoặc cái Tôi, cái Tâm, cái Bản Ngã) của mình không chị? Xưa nay chúng ta đang nhầm lẫn và đồng hoá giữa Cái thấy Biết chính là cái Ý của mình. (Phật gọi trong kinh Thủ Lăng Nghiêm là “nhận giặc làm cha”). Việc quan sát thân tâm giúp ta thấy đang có Cái quan sát (Biết) và Cái được quan sát (Ý). Dần dần cái Ý sẽ bớt vai trò đi, và dần dần cái Biết sẽ tăng trưởng lên. Cuối cùng là trong thấy chỉ thấy trong nghe chỉ nghe…

E nghĩ vậy có hợp lý k chị?
Và đến 1 lúc nào đó cũng rời rụng luôn cả khái niệm phân biệt cái Biết, cái Ý, chả cần phải quan sát gì nữa, pháp tự vận hành…”

Trong câu hỏi trên, có vài sự hiểu lầm mà rất nhiều người mắc phải, kể cả những người tu lâu năm và cả nhiều trường phái.

Đúng là quan sát thân tâm giúp mình bớt dính mắc với suy nghĩ, cảm xúc, ký ức, xung động và các phản ứng tự động. Việc chứng kiến giúp tâm nhận ra rằng những diễn biến này sinh lên, đổi thay, và mất đi theo điều kiện. Nhờ vậy, độ dính mắc với các diễn biến thân tâm giảm xuống. Đó là phần rất đúng trong câu hỏi trên.

Nhưng chỗ hiểu lầm nằm ở đây: “có một Cái quan sát là Biết, và có một Cái được quan sát là Ý; dần dần cái Ý yếu đi, cái Biết tăng trưởng lên.”

Đây là hiểu lầm rất phổ biến. Nhiều người tưởng tu là TÁCH dần “người biết” ra khỏi “cái bị biết”, TẠO KHOẢNG CÁCH giữa “cái chứng kiến” và thứ “được chứng kiến”, rồi an trú càng ngày càng sâu trong “cái biết” ấy. Dù gọi đó là nhân chứng, chủ thể thuần khiết, cái biết sáng suốt, chân ngã, chân tâm, bản thể, hay một tên gọi rất đẹp và hợp lý nào đó. Nhưng bản chất sai lệch vẫn giống nhau: họ đã biến một chức năng biết đang diễn ra thành một thực thể để bám vào. Họ lấy kinh nghiệm bớt dính mắc rồi tôn nó thành một bản ngã mới, tinh tế hơn, khó phát hiện hơn, và vì mang màu sắc tu tập nên cũng khó bị nghi ngờ hơn.

Bản thân việc chứng kiến và thấy biết là không tách rời hay cần lùi lại, hay cần có khoảng cách gì với diễn biến thân tâm.

Thế nhưng, trong quá trình chia sẻ, nhiều người với chút kinh nghiệm ít ỏi và chưa hiểu thấu sẽ mô tả trải nghiệm của họ qua cách gọi như ” tạo khoảng cách”, “tách ra”, “lùi lại”, “thấy đây là mình đang chứng kiến, kia là thứ được chứng kiến”.

Cách nói này thoạt đầu nghe có vẻ rất hữu ích, nhưng cái hại mà nó mang lại thì rất rõ ràng.

Bản chất của sự vô minh, là sự dính mắc vào một mô hình ảo về “TÔI”.
Nhằm thấy rõ và thấu tỏ được sự giả hợp và ảo tưởng “TÔI” này, người ta được hướng dẫn chứng kiến thân tâm. Điều này là rất đúng. Tuy nhiên, khi được hướng dẫn, hoặc bị hiểu sai là để chứng kiến thì phải “tách ra”, “lùi ra”, “tạo khoảng cách”.., điều mà một người sẽ lập tức cố gắng hình dung, là dựng một mô hình mới tinh vi hơn là “tôi là kẻ đang nhìn cái khổ”.

Mô hình TÔI mới này có vẻ thanh hơn, sạch hơn, cao hơn, vì nó ít phản ứng hơn. Nhưng nó vẫn là một cấu trúc quy chiếu quanh “tôi”. Đồng thời, não phải tự tạo ra một khoảng cách bằng khái niệm, thậm chí, dụng công để liên tục gìn giữ khái niệm khoảng cách và mô hình “tôi chứng kiến” đó nhằm đảm bảo phù hợp với hướng dẫn “tạo khoảng cách”, “tách ra”, “lùi lại”.

Từ đây bắt đầu sinh ra hàng loạt lệch lạc rất dễ thấy. Trước hết, toàn bộ việc nhìn trở thành một sự dụng công. Thay vì thân tâm được thấy ra trong vận động thực của nó, con người bắt đầu cố làm đúng một kỹ thuật mà mình đã tin là đúng. Họ phải giữ một tư thế nội tâm nhất định, phải “ở ngoài”, phải “đứng sau”, phải “lùi lại”, phải duy trì cảm giác rằng mình đang là người quan sát. Ngay khúc đó, người ta bắt đầu gồng mà nhiều khi còn không biết mình đang gồng. Cái gồng này có khi rất thô, như nhíu trán, nén cảm xúc, giữ hơi thở, siết chú ý. Có khi nó rất vi tế, như một cảm giác phải luôn tỉnh, phải luôn biết, phải luôn đứng đúng vị trí của người chứng kiến. Nhưng dù thô hay vi tế, bản chất vẫn giống nhau: thay vì thấy sự thật, người ta đang cố duy trì một cấu hình tâm lý.

Khi cấu hình ấy được duy trì đủ lâu, con người bắt đầu đồng hoá liên tục với một mô hình “TÔI CHỨNG KIẾN”. Đây là chỗ rất thú vị, vì nó mang vẻ sáng sủa và đạo lý, càng giữ chân người ta mắc kẹt ở đây thật là lâu. Trước đây thì nói “tôi buồn”, “tôi giận”, “tôi đau”. Giờ cái tôi vi tế hơn thì nói “tôi là cái đang thấy nỗi buồn”, “tôi là cái đang chứng kiến cơn giận”, “tôi là cái biết cơn đau”.
Trước kia cái tôi nằm trong nội dung. Bây giờ cái tôi nằm trong vai người quan sát nội dung. Vì chỗ đứng mới này có vẻ an yên hơn, trong lành hơn, ít phản ứng hơn, nên nó tạo cảm giác tiến bộ rất mạnh. Chính vì thế nó càng khó bị nhận diện.

Rồi mỗi lần bị cuốn đi, họ không chỉ khổ vì cơn sân hay cơn lo. Họ còn bực, còn thất vọng, còn tự trách vì đã ‘thiếu tỉnh biết”. Người đó bắt đầu sống với một mệnh lệnh ngầm: tôi phải biết liên tục. Tôi phải chứng kiến đúng. Tôi phải giữ được trạng thái quan sát. Cho nên hễ một cơn sân bất ngờ bùng lên, hễ một lúc nào đó bị cuốn theo lo âu, hễ một phản ứng vô thức vừa xảy ra xong, họ lập tức khó chịu với chính mình. Họ không chỉ khổ vì cơn sân hay cơn lo, mà khổ thêm một tầng nữa vì “tôi đã đánh mất cái biết”, “tôi đã rơi khỏi vị trí chứng kiến”, “tôi tu thế mà vẫn bị cuốn”. Cái đau ban đầu có khi chỉ là một sóng tâm bình thường. Nhưng vì có thêm mô hình “tôi phải là người biết”, nên ngay sau sóng tâm lại có thêm thất vọng, tự trách, sốt ruột, thậm chí xấu hổ. Như vậy khổ không giảm mà còn nhân lên.

Rồi “cái biết” bắt đầu bị cái tôi chiếm dụng thành công cụ thao túng. Bề ngoài người ấy vẫn nói tới quan sát, tới chứng kiến, tới sáng tỏ. Nhưng bên dưới, động cơ thật lại là kiểm soát kết quả. Họ nhìn để bớt khổ. Họ trừng trừng chứng kiến để mong cảm xúc phải dịu xuống. Họ quay vào thân tâm không phải để thấy sự thật, mà để buộc sự thật phải biến thành cái họ muốn. Cho nên câu hỏi ngầm luôn là: tại sao mình đã nhìn mãi mà khổ chưa tan? Tại sao mình đã chứng kiến kỹ như vậy mà cơn đau vẫn còn? Tại sao mình đã giữ khoảng cách mà lo âu vẫn xuất hiện? Những câu hỏi đó phơi bày rất rõ rằng ở đây “biết” đã bị biến thành một đòn bẩy phục vụ ý muốn của bản ngã. Nó đã không còn là sự thấy trung thực. Nó đã thành một phương pháp ép đời sống phải nghe lời mình.

Căng thẳng và suy nhược thần kinh cũng xuất hiện từ chính cơ chế ấy. Bởi vì để duy trì mô hình “tôi chứng kiến”, não phải liên tục giữ một lớp giám sát bậc hai hoạt động. Tức là, ngoài việc tiếp nhận và phản ứng với kinh nghiệm đang xảy ra, nó còn phải liên tục dựng và duy trì một góc nhìn về chính kinh nghiệm ấy. Bậc một là “tôi đang khổ”. Bậc hai là “tôi là cái đang thấy cái khổ”. Người ta không thoát khỏi mô hình tôi, mà chỉ thêm một mô hình tôi mới tinh vi hơn. Từ đó, kinh nghiệm không còn được thấy tự nhiên nữa, mà bị đặt dưới sự canh chừng liên tục của một “mô hình người quan sát” mà não đang cố giữ cho tồn tại. Nó không chỉ tiếp nhận kinh nghiệm đang xảy ra, mà còn phải theo dõi xem mình có đang theo dõi đúng hay không. Nó phải canh chừng độ tỉnh, độ tách, độ khoảng cách, độ đúng kỹ thuật. Như vậy, thay vì hệ thần kinh được bớt dính mắc nhờ thấy rõ, nó lại bị kéo vào một chế độ tự giám sát kéo dài. Chế độ này tiêu hao rất nhiều năng lượng. Nó khiến người ta mệt mỏi, khô khan, căng thẳng, mất tự nhiên, lâu ngày sinh cảm giác suy kiệt nội tâm. Có người tưởng đó là “công phu sâu sắc”, nhưng thực ra đó là hao tổn thần kinh và cơ thể do điều hành quá mức. Họ luôn phải làm một việc gì đó với kinh nghiệm của mình, nên thân tâm khó được quân bình trong sự thật giản dị.

Vì vậy, sự chứng kiến không còn được như nó là, mà chỉ còn là cái TÔI MUỐN CHỨNG KIẾN thấy là. Một khi đã có một mô hình “tôi đang quan sát”, thì mọi thứ xuất hiện đều đi qua bộ lọc của mô hình ấy. Người đó không còn chỉ thấy cơn buồn. Họ thấy “cơn buồn này đang được tôi quan sát khá tốt” hoặc “cơn buồn này đang kéo tôi ra khỏi vị trí quan sát”. Họ không còn chỉ thấy thân đang căng lên. Họ thấy “mình đang giữ được khoảng cách với sự căng thẳng” hoặc “mình lại bị dính vào sự căng thẳng”. Tức là kinh nghiệm không còn hiện nguyên dạng nữa. Nó bị bọc thêm một lớp diễn giải tự quy chiếu. Và vì lớp diễn giải này mang danh tu tập, người ta dễ tôn trọng nó hơn sự kiện đang diễn ra. Rốt cuộc, cái được thấy không phải thân tâm thực, mà là thân tâm sau khi đã bị cắt nghĩa theo nhu cầu bảo vệ hình ảnh “tôi là người biết”.

Chính vì thế mà cái chứng kiến bị thu hẹp lại. Nó bị thu hẹp không phải vì ít cái để chứng kiến, mà theo nghĩa toàn bộ trường kinh nghiệm bị co rút quanh một nhiệm vụ ưu tiên: giữ vị trí của người quan sát. Khi một phần năng lực tâm thần bị huy động để liên tục xác lập “tôi đang ở ngoài”, phần đó sẽ làm giảm độ mở tự nhiên của cái thấy. Chú ý sẽ thiên về những gì giúp củng cố vai người chứng kiến và loại bỏ những gì đe doạ cái tôi ấy. Hệ quả là những chuyển động quá vi tế, quá bất ngờ, quá sống động, hoặc quá trái với kỳ vọng sẽ ít được nhận ra. Người đó thấy những gì khớp với khung “ta đang quan sát”, nhưng lại bỏ lỡ những gì vượt ngoài khung ấy. Nói cách khác, chứng kiến không còn rộng và thật, mà trở thành một loại nhìn có chọn lọc.

Nó còn hẹp theo một nghĩa khác nữa. Khi có sự dụng công để duy trì hình ảnh người đang biết, cái thấy thường bị co lại. Hệ thần kinh bước vào kiểu vận hành ưu tiên kiểm soát hơn là tiếp nhận. Mà hễ ưu tiên kiểm soát thì nó sẽ tìm cái chắc chắn, cái đã quen thuộc, cái dễ gọi tên, cái đang bị xem là “vấn đề”. Vì vậy người ta rất dễ chằm chằm vào một vài đối tượng nổi bật như cơn đau, nhịp tim, ý nghĩ khó chịu, cảm giác khó thở, hay cảm giác “mình đang bị mất sự tỉnh biết”. Trong khi đó, những yếu tố khác của toàn cảnh kinh nghiệm, như nền thân thể rộng hơn, sự thay đổi rất nhỏ của cảm thọ, những động tác chấp giữ vi tế, những phản xạ muốn thành công, muốn chứng đắc, muốn mau hết khổ, lại bị bỏ qua. Sự chứng kiến kiểu ấy đương nhiên hẹp, vì nó bị nén vào bảo tồn quanh những thứ mà cái tôi chứng kiến đang quan tâm.

Nguy hiểm hơn, sự chứng kiến ấy dần mất tự nhiên để nhận ra những gì nằm ngoài cái nó đang gồng. Sự thật thường không hiện ra theo lệnh của ta. Nhiều điều rất quan trọng chỉ lộ ra khi tâm không còn bận duy trì một tư thế. Chẳng hạn, chỉ khi bớt cố quan sát, người ta mới nhận ra suốt nãy giờ mình đang âm thầm muốn hết buồn. Chỉ khi bớt cố tách ra, người ta mới nhận ra ngay trong động tác “tách” đã có sự sợ hãi kinh nghiệm sống động. Chỉ khi bớt cố giữ khoảng cách, người ta mới thấy rằng cái gọi là khoảng cách ấy vốn được dựng nên từ ác cảm, từ phòng vệ, từ nhu cầu an toàn. Nhưng nếu cái gồng còn chi phối, thì những điều này rất khó lộ diện.

Thành ra, người ta có thể “chứng kiến” rất lâu mà vẫn không chạm được chỗ gốc. Họ mải nhìn đối tượng, mải nhìn phản ứng, mải nhìn ý nghĩ, nhưng không thấy động cơ “tôi chứng kiến” đang điều khiển toàn bộ việc nhìn. Họ không thấy cái ý muốn thầm kín đang dẫn dắt công phu. Họ không thấy ra nỗi sợ bị tan vào những cảm xúc đang trải nghiệm. Họ không thấy nhu cầu có một chỗ đứng/ một trung tâm vững chắc bên trong. Họ không thấy rằng mình đang dùng “biết” để tiếp tục tự bảo vệ. Vì không thấy chỗ đó, họ có thể càng tu càng mệt, càng quan sát càng khô khan, càng chứng kiến càng xa đời sống.

Cho nên, cần nói thật dứt khoát là: sai lầm phổ biến nằm ở chỗ biến chứng kiến thành một thao tác dựng cái tôi mới. Khi ấy, toàn bộ năng lực nhìn bị bẻ cong. Cái biết bị dùng sai chức năng. Đáng lẽ nó soi sáng cái đang là, thì nó bị lôi vào việc duy trì một hình ảnh về người biết. Đáng lẽ nó giúp thấy ra sự dính mắc, thì nó lại cung cấp một hình thức dính mắc vi tế hơn. Đáng lẽ nó làm thân tâm quân bình vì thôi cưỡng ép, thì nó lại khiến hệ thần kinh nặng thêm vì phải kiểm soát liên tục.

Quan sát thân tâm, nếu làm đúng, không có nhiệm vụ sinh ra hai phe riêng biệt rồi cho phe này thắng phe kia. Nó không tạo ra một “cái Biết” như một ông chủ đứng nhìn một “cái Ý” như một tên đầy tớ. Nó chỉ thấy rõ tiến trình đang vận hành. Chứ không phải để dựng một kẻ quan sát riêng rẽ rồi tôn kẻ đó lên làm chân lý.

Vì vậy, nói “có cái quan sát và cái được quan sát” chỉ có thể đúng như một cách chỉ dẫn tạm thời ở giai đoạn đầu. Nó có giá trị sư phạm, vì người mới học thường đang dính cứng vào nội dung tâm. Khi bảo họ “hãy thấy ý nghĩ như đối tượng được biết”, điều đó giúp nới lỏng sự đồng nhất. Nhưng nếu từ phương tiện tạm thời ấy mà kết luận thành bản thể học, tức là tin thật rằng có một “cái Biết” tồn tại độc lập, thường trực, tinh khiết, đứng riêng ra khỏi mọi tiến trình, thì người đó đã đi lạc khỏi việc thấy như thật. Họ đã đổi một khái niệm mê lầm lấy một khái niệm mê lầm nghe sang hơn.

Cho nên, với câu hỏi “quan sát thân tâm có giúp tách cái Biết ra khỏi cái Ý không?”, thì xin thưa, câu trả lời chuẩn xác là đây: nó giúp thấy rằng ý nghĩ chỉ là ý nghĩ, cảm xúc chỉ là cảm xúc, xung động chỉ là xung động, và việc biết các thứ đó đang xảy ra cũng chỉ là một mặt của tiến trình kinh nghiệm đang diễn ra. Nó làm yếu đi xu hướng phản ứng và dính mắc, chứ không xác nhận một thực thể biết riêng biệt để bám vào.

Cũng vì vậy, câu “cái Ý sẽ bớt vai trò đi, cái Biết sẽ tăng trưởng lên” cần phải được nhìn nhận lại. Nếu nói “ý” theo nghĩa là toàn bộ hoạt động tư duy, thì nói nó “bớt vai trò đi” là sai hoàn toàn. Tư duy không phải kẻ thù. Khả năng nghĩ, nhớ, so sánh, tính toán, dùng ngôn ngữ, lập kế hoạch, nhận định đúng sai trong đời sống vẫn cần thiết. Cái cần giảm không phải là chức năng tư duy, mà là quyền lực mà ta trao cho các phản ứng có điều kiện, cho các diễn giải thiếu kiểm chứng, cho thói quen lấy nội dung tâm làm sự thật tuyệt đối. Còn nếu nói “cái Biết tăng trưởng”, thì cũng chỉ đúng theo nghĩa mức độ sáng rõ, ổn định, bớt dính mắc, ít méo mó, ít phóng chiếu được rèn luyện dần. Nó không đúng nếu hiểu rằng có một thực thể “Biết” vốn là bản ngã cao cấp đang lớn lên từng ngày.

Nhiều người còn mắc thêm một nhầm lẫn nữa: họ nghe “trong thấy chỉ là thấy, trong nghe chỉ là nghe” rồi tưởng đó là một trạng thái mơ hồ, trống rỗng, không cần phân biệt, mất khả năng biết đúng biết sai, không cần hiểu gì nữa, cứ để mọi thứ trôi.

“Trong thấy chỉ là thấy” không có nghĩa là tri giác bị cắt khỏi nhận định đúng sai trong đời sống. Nó có nghĩa là ở khoảnh khắc tiếp xúc trực tiếp, tâm không vội quy chụp “tôi đang thấy”, “cái tôi thích”, “cái tôi ghét”, “điều này nói gì về tôi”, “tôi phải giữ lấy”, “tôi phải loại bỏ”. Nhờ đó mà chứng kiến được khách quan, trả lại cho kinh nghiệm tính trực tiếp của nó, trước khi thói quen chiếm hữu và diễn giải chen vào. Từ chỗ đó, trí tuệ mới có đất mà vận hành đúng. Còn nếu nghe câu ấy rồi biến nó thành khẩu hiệu phủ nhận mọi phân biệt, thì đó chính là chỗ trí tuệ chưa tới nơi tới chốn mà vội kết luận theo ý chủ quan.

Một hiểu lầm rất phổ biến nữa là coi “ý” như giặc. Câu “nhận giặc làm cha” rất mạnh, nên nhiều người nghe xong sinh ra thái độ đối kháng với suy nghĩ. Họ nhìn ý nghĩ như một thứ cần đánh bại, loại bỏ, dập tắt. Rồi cuộc tu tập biến thành chiến tranh nội tâm. Hễ nghĩ là thấy mình sai, hễ còn lời trong đầu là thấy mình chưa tới. Điều này dẫn tới hai hậu quả: một, là người đó trở nên căng cứng, luôn kiểm soát. Hai, là họ đè nén hoạt động tâm lý, rồi ngỡ sự trống vắng cưỡng ép ấy là thanh tịnh. Thật ra, cái cần thấy là: ý nghĩ tự nó chỉ là hiện tượng có điều kiện. Vấn đề không nằm ở sự xuất hiện của nó. Vấn đề nằm ở sự bám chấp lấy nó.

Cho nên, đường đi đúng không phải là “diệt ý để cứu Biết”, mà là thấy rõ cả ý, cả cảm giác, cả phản ứng, cả động tác chụp lấy, cả nhu cầu tạo dựng một người biết ở phía sau. Hễ còn một điểm nào được tâm lén giữ lại làm trung tâm thì chỗ đó vẫn còn mê lầm. Có người bỏ được đồng nhất với thân. Có người bỏ được đồng nhất với cảm xúc. Có người bỏ được đồng nhất với suy nghĩ. Nhưng rồi họ giữ lại “người chứng kiến”. Họ xem đó là bến đỗ cuối cùng. Thật ra đó chỉ là cái tôi mang tên Biết.

Câu hỏi tiếp: “Rồi đến lúc nào đó cũng rời rụng luôn cả khái niệm phân biệt cái Biết, cái Ý, chả cần phải quan sát gì nữa, pháp tự vận hành… có đúng không?”
Ý này đúng ở chỗ: về sau, các khái niệm dùng để học ban đầu có thể tự rụng, vì tâm không còn bị cuốn vào quán tính phải lải nhải hay giải thích liên tục nữa. Cái thấy trở nên trực tiếp hơn. Nhưng đi tới kết luận “chả cần quan sát gì nữa” thì là sai lầm hoàn toàn.

“Pháp tự vận hành” không phải khẩu hiệu để “không cần tỉnh táo”. Nó chỉ có nghĩa rằng mọi hiện tượng sinh diệt theo điều kiện, không cần một cái tôi điều khiển thì mới xảy ra. Nhưng chính vì mọi thứ vận hành theo điều kiện, nên nếu vô minh còn, chấp thủ còn, thói quen phản ứng còn, thì những điều kiện ấy vẫn tiếp tục sinh khổ. Nói “pháp tự vận hành” trong khi chưa thấy thấu chuỗi duyên khởi của dính mắc chỉ là dùng ngôn từ lớn để che một sự thấy chưa tới.

Chỗ này mà nhầm lẫn là ối giồi ôi.

Trong suốt quá trình thấy biết thân tâm, cái mất dần đi là quán tính dính mắc, cố dựng một người đang quan sát để kiểm soát kinh nghiệm. Cái không mất đi là sự tỉnh táo, chính xác, trực tiếp, không đồng hoá.

Nói ngắn gọn: quan sát thân tâm không dẫn tới việc tách ra một chủ thể biết thật sự tồn tại độc lập. Nó dẫn tới việc thấy rằng: cả cái mà ta gọi là “ý”, lẫn cái mà ta gọi là “tôi đang biết”, đều có thể được chứng kiến như các hiện tượng đang hiện hành chứ không có cái tôi nào tách biệt. Lúc đầu (vài 3 ngày đầu thôi, không phải cả vài năm đâu ạ), người học có thể cần nghe cặp phân biệt “người biết – cái bị biết” để làm quen với việc thấy biết, nhưng nếu dừng ở đó, họ sẽ mắc kẹt trong nhị nguyên vi tế. Thực chất là, trong vài ngày đầu tiên chứng kiến thân tâm (nếu được hướng dẫn đúng), họ sẽ thấy không cần phải lập hai phe “biết” và “bị biết”. Chỉ có tiến trình đang diễn ra, và trí tuệ thấy rõ tiến trình ấy mà không cần phải dựa vào đầu làm trung tâm, làm lõi, làm cái tôi biết. Trong kinh nghiệm của mình, điều này nếu không được chỉ dẫn, đa số (99,999%) làm sai.

Túm lại, quan sát thân tâm không phải để tạo ra một “cái Biết” đứng riêng và lớn dần lên, mà để thấy và thôi nhầm bất kỳ hiện tượng nào là “tôi” hay “của tôi”; kể cả “người quan sát” nếu nó bị dựng thành một chỗ đeo bám hay nương tựa.

Phan Ý Ly
25.04.2026


Khám phá thêm từ Phan Ý Ly

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

Gửi phản hồi