Đại sư Tường Quan Chiếu Khoan (1741-1830), truyền nhân đời thứ năm của phái Liên Tông thuộc dòng Lâm Tế, khi sắp tịch, ngài gọi đệ tử lớn là Từ Tánh đến và dặn rằng:
“Từ thuở nhỏ đến nay, ta một lòng chuyên tâm tu đạo, nay sắp ra đi, con hãy nghe ta truyền lại bài kệ này:
Người bậc nhất tu pháp vô vi
Người bậc nhì phước huệ đầy đủ
Người bậc ba làm thiện chừa ác
Người bậc tư tam tạng tinh thông”
“Người bậc nhất tu pháp vô vi”
Khi nói đến vô vi, nhiều người hiểu đơn giản là không làm gì, hay buông xuôi mọi việc. Nhưng đó là nhầm lẫn.
Vô vi là trạng thái hành động không có sự tạo tác của cái “tôi”, không bị thúc đẩy bởi tham, sân, si hay bất kỳ động lực ích kỷ nào. Đó là hành động diễn ra một cách tự nhiên, thuận theo bản chất của vạn vật, mà không có sự dính mắc vào kết quả hay quá trình. Trong cái thấy thuần khiết, không bị dính mắc bởi định kiến, tâm không can thiệp, không dán nhãn, không phân biệt, không dựa trên những khái niệm sẵn có của cái tôi. Khi sống trong cái thấy thuần khiết, ta có khả năng thấu suốt, chứng kiến mọi thứ như chúng đang là, mà không bị toan tính, kế hoạch, hay kỳ vọng cá nhân gây tác động làm cho mê mờ, điều này chính là vô vi.
Trong cái thấy thuần khiết và trong sáng, mọi hành động trở nên tự nhiên và tự do, không bị ràng buộc bởi các ý niệm chủ quan. Hành động đó không xuất phát từ cái tôi, mà từ sự hòa nhập tự nhiên vào dòng chảy của cuộc sống. Mọi việc ta làm lúc này không còn bị thao túng hay quá nặng nề từ động cơ riêng của bản thân nữa, mà còn có sự lắng nghe và tôn trọng phản hồi tự nhiên từ môi trường và cuộc sống xung quanh.
Khi ta thấy ra mọi sự việc đang xảy ra mà không thêm bất kỳ nhãn dán nào, không áp đặt cái nhìn cá nhân, thì ta không còn khổ tâm hay cố gắng để “sửa chữa” hoặc “làm cho tốt hơn”. Điều này có nghĩa là ta không còn tạo tác. Vậy nên, trong thấy biết thuần khiết, thực ra bản ngã không còn việc gì để “làm” cả, và điều này chính là vô vi. Nó đến từ sự hiểu biết rằng mọi thứ đang diễn ra theo cách tự nhiên, và không có lý do gì để mình phải cố gắng làm bất cứ điều gì để đi ngược lại cái đang là, ngoài việc trọn vẹn và tôn trọng sự tự nhiên trong mình và hoàn cảnh.
Bậc thứ hai: “Người bậc nhì phước huệ đầy đủ”
Phước huệ đầy đủ nghe có vẻ rất tuyệt, nhưng thực ra, ở bậc này vẫn còn nhiều chỗ dính mắc mà mình cần nhận ra.
Phước là những việc làm thiện lành, công đức tạo ra từ lòng từ bi, giúp đỡ người khác. Ở đây, người bậc nhì đã tích lũy được rất nhiều phước báu qua các hành động tốt, giúp đỡ người khác, nuôi dưỡng lòng từ bi. Ví dụ, khi đi làm từ thiện, hỗ trợ người nghèo hay cứu trợ đồng bào gặp khó khăn, ta cũng đang tạo phước. Nhưng điểm cần chú ý là “người bậc nhì” vẫn có sự mong cầu trong những việc làm đó, dù cho họ có thể nghĩ rằng mình không mong chờ gì, nhưng sâu xa trong tâm, vẫn còn sự kỳ vọng về kết quả. Có thể là họ mong muốn mình trở thành người tốt hơn, hay thậm chí là tích phước để mau đạt đến sự giác ngộ. Chính điều này vẫn là một dạng dính mắc.
Huệ ở đây chỉ sự hiểu biết sâu sắc về bản chất của cuộc sống, về sự vô thường, vô ngã, khổ đau. Người tu bậc nhì đã nhận ra nhiều điều về thế giới, thấy được rằng mọi thứ đều vô thường, không có cái gì thuộc về mình cả. Họ phát triển trí tuệ, phân biệt rõ ràng giữa thiện và ác, đúng và sai. Nhưng vấn đề là, ở bậc này vẫn còn có sự phân biệt, vẫn còn bị che lấp bởi ý chí chủ quan và mong cầu về việc tích lũy phước báu.
Bậc thứ ba: “Người bậc ba làm thiện chừa ác”
Bậc này thường là bước đầu tiên trên con đường tu tập của rất nhiều người. “Làm thiện chừa ác” là một cách tu tập phổ biến và dễ hiểu. Người bậc ba nhận thức được rằng phải làm điều tốt và tránh xa điều xấu, họ cố gắng tuân theo những nguyên tắc đạo đức và lối sống đúng đắn do người khác đề ra.
Người này thấy rõ giá trị của việc làm việc tốt. Họ có ý thức về việc giúp đỡ người khác, sống đạo đức, và hành xử theo chuẩn mực luân lý. Ví dụ, khi thấy ai đó gặp khó khăn và quyết định giúp đỡ họ, hoặc khi ta biết việc gì đó sai trái và tránh không làm, thì ta đang “làm thiện chừa ác”. Đây là mức độ tu hành đầu tiên, bởi lúc này người tu tập bắt đầu nhận ra những hậu quả của hành động sai xấu và muốn cải thiện bản thân mình.
Dĩ nhiên người bậc ba không chỉ làm việc tốt, mà còn có ý thức về việc tránh xa điều xấu. Ví dụ, ta thấy một cơ hội để lừa dối ai đó để được lợi ích cho mình, nhưng ta quyết định không làm. Điều này cho thấy ta đang thực hiện hành động tránh xa điều ác.
Vậy sao người làm thiện chừa ác mà chỉ được xếp ở mức độ 3 trong tu tập?
Vì ở đây, hành động của người tu tập bậc ba vẫn đang phụ thuộc vào sự thao túng của tâm trí, sự phân biệt giữa thiện và ác hoàn toàn theo kinh nghiệm chủ quan và do “ông bà dạy lại thế” chứ không thực chất do trí tuệ của họ thấy biết. Thay vì tự nhìn nhận được đúng sai, họ vẫn phải dựa vào những quy định, khái niệm và kinh nghiệm để phân biệt, và đa phần hành động làm thiện chừa ác của họ là những nỗ lực để cải thiện bản thân, để góp ích cho đời, hoặc để thay đổi điều gì đó.
Nó tốt đẹp “tương đối” theo cái nhìn chủ quan của bản ngã luôn muốn hoàn thiện và cầu toàn. Chính sự nỗ lực này cho thấy cái “tôi” vẫn còn hiện diện. Họ làm thiện vì tin rằng làm như vậy sẽ giúp họ trở nên tốt hơn, hoặc đạt được một điều gì đó trong tương lai (có thể là phước báu, hay sự thanh tịnh trong tâm).
Để hiểu được điều này là rất khó khăn với người bậc 3, bởi thế giới quan của họ bị thao túng gần như hoàn toàn bởi lý trí, nói cách khác là cái thấy thuần khiết bị che lấp rất nhiều. Chính điều này khiến họ kẹt lại và là đối tượng dễ phán xét bản thân và người khác nhất. Tuy nhiên, chính việc làm thiện tránh ác của họ, ngoài những khoảnh khắc tự dằn vặt trách mình, trách người không.. thiện, thì họ thường an vui, ít đấu đá, nghi kỵ, mâu thuẫn trong nội tâm lẫn với bên ngoài, từ đó cũng có điều kiện thuận lợi hơn để tu tập.
Bậc thứ tư: “Người bậc tư tam tạng tinh thông”
Người tu bậc tư đã thông hiểu toàn bộ Tam tạng kinh điển, bao gồm rất nhiều giáo lý, đạo lý và triết lý sâu sắc. Họ có thể nghiên cứu, phân tích, và hiểu rõ ràng các khái niệm phức tạp về bản chất của cuộc sống, khổ đau, vô thường, vô ngã, và các phương pháp tu tập khác nhau. Thậm chí họ có thể tranh biện, giảng dạy, tầm chương trích cú một cách thông thạo không vấp váp.
Tam tạng kinh điển là kho tàng kiến thức khổng lồ bao gồm nhiều bài giảng, giáo lý và phương pháp tu tập. Người tu bậc tư đã tinh thông tất cả những giáo lý này, họ có thể hiểu sâu sắc về các khái niệm và lý thuyết liên quan đến sự giác ngộ. Ví dụ, người này có thể trích dẫn nhiều đoạn kinh điển, giải thích cặn kẽ về các phương pháp tu hành, và thậm chí giúp người khác hiểu rõ hơn về giáo lý.
Tuy nhiên, sự hiểu biết về lý thuyết, dù sâu sắc đến đâu, vẫn chỉ là kiến thức (tức là dữ liệu được ghi từ quá khứ, kinh nghiệm, chứ không đến từ khả năng thấy biết thực tại).
Hiểu biết về Tam tạng kinh điển là một dạng kiến thức, và kiến thức này có thể khiến người tu trở nên chủ quan, tự cho rằng vì mình thuộc lòng giáo lý nên mình đang tu tập, đây là sự hiểu lầm tai hại nhất. Bởi vì đọc nhiều và học thuộc về cấu trúc hoá học của xoài không có nghĩa là anh đã nếm xoài. Thậm chí vì mải dính mắc vào những gì đã học nên có khi đang nếm xoài cũng không biết, vì mải bám chấp vào những ảo tưởng về xoài do tâm trí đúc kết và vẽ ra dựa trên cách hiểu của nó từ sách vở về “xoài”.
Tại sao thấu rõ tam tạng kinh điển mà lại xếp sau cả người “làm thiện – chừa ác”? Là bởi ít nhất cái người làm thiện chừa ác, tuy không hiểu hay đọc kinh điển, giáo lý, vẫn đang chọn một lối sống có ý thức, đỡ hại mình hại người (theo cách tương đối nhất mà họ biết). Còn người nếu đã chấp vào kinh điển, hiểu sai theo ý chủ quan, lại không hành thiện, chừa ác.. thì rõ ràng đường lối tu tập này dễ gây mâu thuẫn và tạo ra nhiều rào cản hơn.
Khám phá thêm từ Phan Ý Ly
Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.