Phi tưởng phi phi tưởng xứ

Phi tưởng – phi phi tưởng xứ
Bài viết kén mà không kén! Cứ mạnh dạn đọc mọi người nhé!

“Phi tưởng phi phi tưởng xứ” nghe đâu là cấp độ tu tập cao nhất thời bấy giờ khi đức Phật tu tập dưới sự chỉ dẫn của những vị thầy, và Ngài thấy rằng ngay cả khi đã “hoàn thiện” tầng thiền này, đây vẫn không phải tự do thực sự, nên quyết định tự tìm con đường khác.

Đừng để cái tên nghe loằng ngoằng này làm bạn mất sự háo hức, vì nó thực ra rất dễ hiểu, nhiều anh chị em có thể đang ở trong giai đoạn này, mà không biết cụ thể cái bẫy chốt nằm đâu.

Vậy nên Ly xin phép tạm chỉ ra bằng bài viết này.

Trạng thái “phi tưởng phi phi tưởng xứ” là một giai đoạn rất vi tế trong tu tập. Đây là mức độ mà tâm trí không còn bị mắc kẹt trong những ý niệm cụ thể (tưởng tượng) nhưng cũng không hoàn toàn rơi vào trạng thái trống rỗng hay vô niệm (không tưởng tượng). Nói cách khác, bản ngã ở đây đang cố gắng “thoát” khỏi sự dính mắc vào cả hai trạng thái: vừa muốn tránh dính mắc vào hình ảnh, ý niệm, vừa muốn tránh dính mắc vào trạng thái trống rỗng, vô hình.

Bản ngã có thể nghĩ rằng mình đã đạt được một trạng thái rất cao siêu, vượt qua mọi hình tướng và ý niệm, nhưng thực ra, nó vẫn đang cố gắng nắm giữ hoặc duy trì trạng thái này. Chính cái nỗ lực để không bám vào gì, không tưởng tượng gì, lại là một hình thức bám chấp rất vi tế. Khi bản ngã cố gắng không bị dính mắc vào tưởng tượng và không dính mắc vào không tưởng tượng, nó vẫn đang cố gắng điều khiển, kiểm soát, và thực sự thì, chính cái sự “cố gắng không dính mắc” đó là một dạng dính mắc mới.

Giả sử có một người tu tập đã đạt đến mức độ phi tưởng phi phi tưởng xứ. Người này có thể nhận ra rằng mọi ý niệm, hình ảnh đều là ảo tưởng, và họ không muốn dính mắc vào chúng. Đồng thời, họ cũng ý thức rằng việc rơi vào trạng thái trống rỗng, vô niệm cũng là một cái bẫy, nên họ cố gắng giữ tâm trí không rơi vào đó. Thế nhưng, trong sự cố gắng để không dính mắc vào cả hai trạng thái này, bản ngã lại vô tình tạo ra một nỗ lực mới để “không làm gì”, “không tưởng gì”. Em thấy không, cái nỗ lực “không tưởng” cũng chính là một dạng tưởng, một loại ý niệm vi tế mà thôi.
Như vậy, dù ở mức độ nhận thức này tâm đã buông bỏ ra phết, nhưng nó vẫn không thể ngừng ôm ấp lý tưởng, hay còn gọi là tâm vẫn dính mắc vào một trạng thái “phải không thế này lẫn không thế kia”. Tinh tế như thế nhưng vẫn có nỗ lực bảo tồn, dĩ nhiên vì vậy đây không phải là tâm vô sự.

Bản ngã ở trạng thái này rất tinh vi, nó loay hoay trong việc duy trì sự “không dính mắc”. Nó có thể khiến người tu tập cảm thấy như mình đã đạt được một sự giải thoát cao siêu, nhưng thực chất, đó chỉ là một dạng bám chấp rất khó nhận ra. Càng cố gắng để không bám vào gì, người đó càng tạo ra một sự căng thẳng, một sự đối kháng ngầm. Bản ngã rất thông minh, nó biết rằng sự dính mắc vào ý niệm là một cái bẫy, nên nó bày ra một chiến lược để “không dính vào đâu cả”. Nhưng chính trong chiến lược này, bản ngã vẫn tồn tại và hoạt động mạnh mẽ.

Tóm cái ý lại, trong phi tưởng phi phi tưởng xứ, bản ngã không còn dính mắc vào những điều hiển nhiên như trước nữa, nhưng nó lại chuyển sang một dạng bám chấp tinh vi hơn, đó là bám vào sự “không dính mắc”. Bản ngã loay hoay trong việc duy trì sự không tưởng, không niệm, và chính sự loay hoay này cho thấy nó vẫn còn hoạt động, vẫn còn cố gắng điều khiển. Điều này nhắc nhở ta rằng, bất kỳ sự cố gắng nào để đạt được trạng thái “không dính mắc” đều là dấu hiệu của bản ngã. Thấy biết thuần khiết không cần phải “làm” gì cả, không cần phải cố gắng không dính vào đâu, mà chỉ đơn giản là chứng kiến mọi thứ như nó đang là, không thêm bớt gì cả. Không cố bỏ cái gì, thêm cái gì, hay giữ nguyên cái gì.

Chúc anh chị em và các bạn tiếp tục hành trình của mình với sự tỉnh thức và thấy rõ mọi vi tế của bản ngã nhé!

Phan Ý Ly


Khám phá thêm từ Phan Ý Ly

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.

Gửi phản hồi